Loét chân

  • Định nghĩa
  • Chăm sóc vết thương
  • Lời khuyên và cách phòng tránh
  • Sản phẩm điều trị

leg-ulcers-01

Loét tĩnh mạch

Đây là kiểu loét phổ biến nhất trong những kiểu loét ở mạch máu.

  • Bệnh nhân thường có tiền sử phù nề chi dưới (chân bị sưng), giãn tĩnh mạch hay hở tĩnh mạch (suy tĩnh mạch).
  • Hoặc trước đó có thể đã bị tắc nghẽn mạch máu ( huyết khối) trên bề mặt hoặc các tĩnh mạch sâu của chân (bị loét sau khi tắc nghẽn mạch máu)

Loét tĩnh mạch ở chân thường xảy ra chủ yếu ở chi dưới, phía trên hoặc các khu vực lân cận mắt cá (mắt cá chân).

Các đặc điểm lâm sàng chính của vết loét tĩnh mạch chân

  • Vết thương nông với rìa vết thương bất thường:
    • Vùng da xung quanh vết loét thường xuyên bị đổi màu
    • Sự xuất hiện dấu hiệu phù nề có thể gây bóng da và làm căng vùng da xung quanh vết thương
    • Nhiệt độ của da có thể bị nóng lên khi chạm vào
    • Vết loét có đặc điểm:
      • Có màu đỏ có thể có sợi tơ huyết hoặc không.
      • Nhiễm trùng, có chảy mủ
      • đặc biệt có tiết dịch.

Dấu hiệu quan trọng để nhận biết được vết loét tĩnh mạch là không xuất hiện mô hoại tử, xảy ra ở tĩnh mạch nông, xuất hiện các mạch ngoại biên.

  • Từ 30% đến 50% loét tĩnh mạch là do hội chứng hậu huyết khối. Tiếp đó, thân tĩnh mạch sâu (tĩnh mạch sâu) sẽ bị tác động, không giống như loét tĩnh mạch, hội chứng hậu huyết khối tĩnh mạch sâu phát triển dần và tiếp tục chuyển biến xấu đi nếu không điều trị.
  • Bệnh loét tĩnh mạch chân trở nên ít phổ biến hơn nhờ vào sự cải thiện công tác phòng ngừa viêm tĩnh mạch) trong vòng 15 năm qua.

Các nguyên nhân gây ra loét tĩnh mạch bao gồm:

  • Các yếu tố di truyền của bệnh tĩnh mạch
  • Lối sống ít vận động, bệnh béo phì
  • Độ tuổi thường mắc bệnh này là trên 60 tuổi
  • Dùng thuốc điều trị liên quan đến hormone sinh dục nữ
  • Vấn đề vi tuần hoàn, (tiểu đường)
  • Suy thận
  • Làm việc đứng liên tục hơn sáu giờ mỗi ngày dẫn đến tăng tỷ lệ mắc chứng giãn tĩnh mạch ở cả nữ giới và nam giới.
  • Tăng nguy cơ bị đông máu trong trường hợp bị nghẽn mạch

Loét động mạch

Loét động mạch ít xảy ra hơn so với loét tĩnh mạch.

Loét động mạch xảy ra ở ngoại biên (phía dưới) vùng bị tổn thương bên ngoài (va chạm, trầy xứơc hoặc các tổn thương khác) mà bệnh nhân thường không chú ý như:

  • Trên bàn chân, xa mắt cá chân , gót chân hay lòng bàn chân.
  • Các điểm tì đè khác

Loét động mạch thường xảy ra ở các bệnh nhân:

  • Bệnh động mạch ngoại biên, xơ cứng động mạch, tiểu đường vv. Đây là kết quả của việc lưu thông máu của động mạch kém

Các đặc điểm lâm sàng chính:

  • Bờ mép vết thương rõ ràng
  • Vết thương sâu và xuất hiện mô hoại tử
  • Không có mùi
  • Bàn chân thường chuyển thành màu trắng nhạt/ vàng khi chân được nâng lên
  • đặc biệt trầm trọng hơn vào ban đêm, do sử dụng chi dưới để vị trí nằm ngang (như khi ở trên giường)
  • có thể lộ gân và xương

Các nguyên nhân dẫn đến bệnh loét động mạch gồm:

  • bệnh tiểu đường
  • hút thuốc
  • huyết áp cao
  • nồng độ cholesterol trong máu cao
  • béo phì
  • gia đình có tiền sử bị bệnh mạch máu ngoại biên hay bệnh nhồi máu cơ tim.

Loét hỗn hợp

Loét hỗn hợp là kết quả của sự kết hợp loét tĩnh mạch và động mạch.
Loét hỗn hợp rất phức tạp và có diễn biến thay đổi nhanh chóng, ví dụ như loét bệnh động mạch sẽ phát triển nhanh hơn.
/Nếu bệnh động mạch chưa được điều trị bởi vì các biến chứng của bệnh, nó sẽ là yếu tố quan trọng cần xem xét khi quyết định phương pháp điều trị.

Định nghĩa

Loét chân được xem là một vết thương hở ở chi dưới do mất hoàn toàn lớp da, dẫn đến sự phát triển của vết thương mãn tính. Vết loét có thể được bao quanh bởi mô cứng hoặc bị đổi màu do sự lưu thông máu giảm. Tình trạng của vùng da xung quanh vết loét là yếu tô cực kỳ quan trọng ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Vùng da xung quanh vết thương càng khoẻ hơn, sẽ đạt đượt thành công càng cao trong quá trình chữa lành vết thương.

Loét có xu hướng không lành tự nhiên và thường tái phát. Nó gây hủy hoại cơ thể đặc biệt khi có những biến chứng phức tạp. Điều trị vết loét ở chân tiêu tốn chi phí xã hội cao cả về chi phí chăm sóc sức khoẻ và gánh nặng tâm lý cho các bệnh nhân.

Sinh lý bệnh

Loét thường có nguyên nhân (95% các trường hợp) do rối loạn tuần hoàn động mạch hoặc tĩnh mạch. Tỷ lệ loét hỗn hợp đã tăng lên trong vài thập kỷ qua, như là kết quả của vấn đề lão hóa dân số kết hợp đồng thời với các vấn đề liên quan đến động mạch. Nguyên nhân này gây phức tạp thêm cho quá trình lành thương.

Chẩn đoán để phân biệt các loại loét

Để xác định nguồn gốc chủ yếu của loét hỗn hợp và / hoặc để bảo đảm rằng không liên quan đến bệnh động mạch, các chỉ số áp lực mắt cá -cánh tay (ABPI) phải luôn được kiểm tra.

Chỉ số áp lực mắt cá-cánh tay (ABPI)

Việc kiểm tra lượng máu ở động mạch dùng để cung cấp đến các chi dưới được sử dụng để giúp xác định nguyên nhân của loét chân:

abpi

Việc kiểm tra này giúp theo dõi dễ dàng nếu tiếp tục sử dụng siêu âm Doppler probe hoặc Doppler ultrasound:

  • Chỉ số ABPI ở một người khoẻ mạnh là 1.1/1.1
  • Nếu chỉ số ABPI từ 0.9 đến 1.3: không mắc bệnh động mạch
    • Nếu xuất hiện vết loét, thì nó có nguồn gốc hoàn toàn từ tĩnh mạch.
  • Nếu chỉ số ABPI từ 0.7 đến 0.9: mắc bệnh động mạch
    • Tuy nhiên vết loét này có nguồn gốc từ tĩnh mạch.
  • Nếu chỉ số APBI thấp hơn 0.7:
    • Đây là vết loét hoàn toàn xuất phát từ loét động mạch.
  • Nếu chỉ số APBI lớn hơn 1.3, kết quả này cho thấy có vấn đề về tắc nghẽn động mạch.

Các kiểm tra bổ sung

Để có một đánh giá đầy đủ về tình trạng của hệ thống mạch máu, cụ thể là ở các chi dưới, các kiểm tra bổ sung hỗ trợ đánh giá lâm sàng bao gồm:

  • Siêu âm
  • Siêu âm màu
  • Chụp động mạch vành

Một số trường hợp là nguyên nhân gây ra các vết thương tương tự như loét chân là do biến chứng mạch máu. Do đó, không nên nhầm lẫn các nguyên nhân này vì mỗi phương pháp điều trị chỉ thích hợp cho một loại bệnh và có thể chống chỉ định cho loại bệnh khác.

Các nguyên nhân có liên quan đến mạch máu khác như cao huyết áp (Martorell), tiểu đường, các bệnh về máu và rối loạn đông máu.

Các nguyên nhân hiếm gặp khác như viêm mạch máu, viêm da mủ hoại thư, bệnh truyền nhiễm, bệnh lý ác tính (ung thư), hội chứng calciphylaxis (đái tháo đường) và loét do thuốc (hydroxyurea).

Nên quan sát kỹ lưỡng các vết loét mãn tính có nguồn gốc do bệnh ác tính , bao gồm:

  • Ung thư tế bào đáy
  • Ung thư tế bào vảy
  • Rất hiếm gặp di căn da ở các bệnh ung thư toàn thân

Các biến chứng do loét

Các biến chứng do loét ở chân bao gồm mất khả năng cử động và nguy cơ nhiễm trùng. Bất động có thể làm cho vết loét tiến triển xấu hơn do tăng huyết áp tĩnh mạch , đồng thời làm tăng sự phụ thuộc của bệnh nhân và cảm giác cô độc

Đôi khi nhiễm trùng trong thời gian dài có thể dẫn đến tình trạng viêm mô tế bào hoặc nhiễm trùng máu. Nếu vết loét xuất hiện nhiều năm, có thể hình thành khối u ác tính (ung thư tế bào vảy) với các chẩn đoán xấu.

Đối với các bệnh nhân bị ảnh hưởng tâm lý do loét chân dẫn đến lo âu va trầm cảm do đó tâm lý của bệnh nhân nên được theo dõi chặt chẽ và hỗ trợ nếu cần thiết.

Điều trị loét

Một khi nguyên nhân tiềm ẩn của loét được phát hiện, việc điều trị là vô cùng cần thiết.

Loét tĩnh mạch hoặc loét hỗn hợp

  • Tăng huyết áp để đáp ứng với phương thuốc điều trị và giảm cân cũng có thể cần áp dụng.
  • Chế độ tập luyện vừa phải sẽ giúp cải thiện sự lưu thông máu ở chân.
  • Nếu bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường thì lượng đường trong máu cần được theo dõi chặt và việc điều trị nên được đánh giá thường xuyên.
  • Trong trường hợp suy tĩnh mạch, phẫu thuật giãn tĩnh mạch vẫn có hiệu quả đối với những bệnh nhân vẫn có thể tiếp nhận phương pháp điều trị này.

Loét động mạch

Đối với các vết loét động mạch, tái tạo mạch ở chi dưới là phương pháp điều trị đầu tiên với đề xuất: tạo hình động mạch bằng bóng hay đặt stent động mạch, hoặc phẫu thuật bắc cầu động mạch là những phương pháp nên được xem xét .

Đau là một vấn đề quan trọng ở những bệnh nhân bị loét động mạch và vấn đề này nên được giải quyết.

LÀNH THƯƠNG Ở VẾT LOÉT CHÂN LÀ LÀNH THƯƠNG THỨ CẤP
HOẶC LÀNH THƯƠNG TRỰC TIẾP
.

 

Loét tĩnh mạch

Hầu hết loét tĩnh mạch sẽ được cải thiện khi sử dụng liệu pháp nén. Nén là một phương pháp điều trị đơn giản, hiệu quả bằng cách ép chân (tác động áp lực trực tiếp, đo bằng mmHg) để kích thích hoạt động trở lại tĩnh mạch về phía tim và làm giảm phù nề.

Băng gạc dạng nén là một phần không thể thiếu trong tiến trình lành vết thương và bệnh nhân nên hiểu tầm quan trọng của sự phù hợp với phương pháp điều trị này.

Liệu pháp nén

Liệu pháp nén đã được sử dụng từ thời cổ đại. Nó vẫn còn là nền tảng để điều trị cho các bệnh tĩnh mạch và bạch huyết.

Nén là một phương pháp điều trị đơn giản, hiệu quả bằng cách ép chân (tác động áp lực trực tiếp, đo bằng mmHg) để kích thích hoạt động trở lại tĩnh mạch về phía tim và làm giảm phù nề.

Mức độ áp lực phụ thuộc vào điều kiện điều trị và khả năng chịu đựng áp lực của bệnh nhân.

Chỉ định của liệu pháp nén

Liệu pháp nén đã được chứng minh hiệu quả:

  • Cải thiện bệnh loét tĩnh mạch mãn tính,
  • đẩy nhanh tốc độ lành thương ở các vết loét tĩnh mạch,
  • Phòng và điều trị huyết khối tĩnh mạch nông và sâu và hội chứng hậu huyết khối,
  • Tối ưu hóa việc chăm sóc sau phẫu thuật tĩnh mạch,
  • Điều chỉnh và phòng ngừa suy bạch huyết (phù bạch huyết)

Vai trò của liệu pháp nén

Dùng liệu pháp nén để phục hồi hoạt động bình thường của tĩnh mạch từ các vùng xa (phần xa của các chi) cho đến các khu vực gần (phần gốc của các chi). Đồng thời giúp tối ưu hóa hoạt động bơm máu của tĩnh mạch để khôi phục lại lưu thông bình thường (từ các tĩnh mạch nông đến các tĩnh mạch sâu, từ các mô xa cho đến các mô gần). Sử dụng liệu pháp nén có thể thúc đẩy và duy trì lành thương ở vết loét tĩnh mạch chân hoặc vết loét hỗn hợp . .

Liệu pháp nén

picto_compression

Bảo vệ vùng da xung quanh vết thương

picto_repair

Giai đoạn chuẩn bị

Nếu vết thương bị nhiễm trùng hoặc tiết dịch nhiều hoặc có hoại tử, nên sử dụng băng gạc có tính kháng khuẩn hoặc làm sạch vết thương.

Sản phẩm

picto_purify picto_clean

Giai đoạn lành thương

Nếu vết thương không bị nhiễm trùng và được làm sạch, băng gạc được sử dụng phải đảm bảo lành thương trong môi trường ẩm và đẩy nhanh tiến trình lành thương với mật độ MMPs cao. Nên sử dụng băng gạc không dính để đảm bảo sự nguyên vẹn của vùng da xung quanh. Có thể sử dụng một lớp tiếp xúc đơn giản bên dưới băng nén khi vết thương đang ở giai đoạn biểu mô hoá.

Sản phẩm

picto_accelerate picto_close

Sau khi lành thương

active-healed-ulcerSau khi lành thương, các vết loét là một điểm yếu trên da và có nguy cơ tái phát.

Băng nén có thể được thay thế bằng vớ nén giúp bệnh nhân dễ quản lý hơn, vì việc sử dụng chúng có thể diễn ra trong nhiều năm tùy thuộc vào phương thức điều trị. Vớ nén phải có kích cỡ phù hợp với chân của bệnh nhân.

Sản phẩm

Vớ tạo lực nén ép ALTIFORM

 

Loét động mạch

KHÔNG NÊN SỬ DỤNG LIỆU PHÁP NÉN TRONG ĐIỀU TRỊ LOÉT ĐỘNG MẠCH.

Giai đoạn chuẩn bị

Cắt lọc vết thương có thể sử dụng để loại bỏ mô hoại tử; băng gạc hydrogel thích hợp cho mục đích này.  Nếu các mạch máu bị suy yếu quá nghiêm trọng trong tiến trình lành thương, không sử dụng băng hydrogel đặt dưới gạc kín trong trường hợp này.

Các vết loét nên được theo dõi đối với các dấu hiệu và triệu chứng nhiễm trùng có thể liên quan đến các mô mềm và xương.

Sản phẩm

picto_purify picto_clean

Giai đoạn lành thương

Băng gạc không dính vào vết thương đặc biệt có ích cho vết loét độngmạch để bảo vệ vết thương khỏi các nguy hiểm bên ngoài và duy trì lành thương throng môi trường ẩm.

Để tiến trình liền thương diễn ra nhanh, nên sử dụng băng gạc có khả năng ngăn ngừa tác hại của MMPs cao.

Ở giai đoạn biểu mô hoá, lớp tiếp xúc đơn giản có thể được dùng để bảo vệ bề mặt da.

Sản phẩm

picto_accelerate picto_close

Sau khi lành thương

ĐIỀU TRỊ CÁC BỆNH ĐỘNG MẠCH PHẦN THÂN DƯỚI
CẦN LƯU Ý PHÒNG NGỪA LOÉT TÁI PHÁT

 

Loét đa nguyên nhân

Nếu chỉ số ABPI của bệnh nhân trong khoảng 0.7 – 0.9 thì có thể sử dụng các loại băng giảm áp lực trong suốt quá trình lành thương, tùy thuộc vào quy trình điếu trị tại địa phương. Phương pháp này cần bệnh nhân nhận thức rõ tầm quan trọng của việc tuân thủ điều trị.

Băng ép

picto_compression

Bảo vệ vùng da rìa vết thương

picto_repair

Giai đoạn chuân bị

Nếu vết thương tiết dịch nhiều hoặc nhiễm trùng thì nên dùng các loại băng có tính kháng khuẩn hoặc làm sạch.

Products

picto_purify picto_clean

Giai đoạn lành thương

Nếu vết thương không nhiễm trùng thì có thể sử dụng các loại băng gạc giúp duy trì môi trường ẩm tại vết thương, giúp thúc đẩy lành thương trong điều kiện mật độ MMPs cao. Nên dùng các loại băng không dính vào vết thương, giúp giữ toàn vẹn vùng da rìa vết thương.

Khi vết thương tiến vào giai đoạn biểu bì hóa, chỉ cần dùng một miếng băng tiếp xúc vết thương và quấn băng ép lên trên cho đến khi lành thương.

Các sản phẩm

picto_accelerate picto_close

Sau khi lành thương

Sau khi lành thương thì các điểm bị loét trên cơ thể là các điểm yếu cần lưu ý, do có khả năng tái phát loét. Có thể dùng vớ ép thay cho băng ép để bệnh nhân thuận tiện sử dụng, thời gian cần sử dụng liệu pháp này có thể lên đến vài năm tùy quy trình điều trị địa phương. Nên chọn loại vừa khít với hình dạng chân bệnh nhân.

Các sản phẩm

Vớ ép ALTIFORM


These advices or recommendations do not replace expert opinion based on a full diagnosis.

Vệ sinh cá nhân

Do có nguy cơ nhiễm trùng cao, bệnh nhân nên được khuyến khích giữ vệ sinh cá nhân và môi trường xung quanh. Vệ sinh thường xuyên và sử dụng quần áo sạch sẽ có thể khó khăn hơn ở những bệnh nhân lớn tuổi và bị bất động. Các vết loét và vùng da xung quanh không bao giờ được chạm vào nếu không rửa tay.

Chăm sóc da

Các vấn đề về da có thể xảy ra cùng với các bệnh liên quan đến tĩnh mạch và động mạch, do đó da cần được bảo vệ khỏi các chấn thương tốt nhất có thể.

Bệnh nhân với các vết loét tĩnh mạch thường bị thiếu máu cục bộ ở mô và các vấn đề về dinh dưỡng: teo da, chàm bội nhiễm

Bệnh nhân cần thông báo về các triệu chứng ngứa và khó chịu có thể được điều trị bằng các chất làm mềm da không chứa paraben, và ít gây dị ứng

Khuyến nghị

Bệnh nhân nên được khuyến khích thực hiện một chế độ dinh dưỡng tốt , nên ăn nhiều trái cây, rau củ, sữa, ngũ cốc và protein, đặc biệt là uống nhiều nước.

Bệnh nhân nên hoạt động càng nhiều càng tốt và thực hiện các hoạt động bình thường của họ. Việc đi bộ cần được khuyến khích, nhưng bệnh nhân không nên đứng im hoặc ngồi trong thời gian dài.

Đối với các vết loét tĩnh mạch. Chân nên được nâng lên vào ban đêm. Để nâng chân lên có thể đặt 1 vài cái gối phía dưới cuối nệm.


These advices or recommendations do not replace expert opinion based on a full diagnosis.

Loét tĩnh mạch

Các sản phẩm băng gạc dạng nén

picto_compression

Chuẩn bị

picto_purify picto_clean

Giai đoạn lành thương

picto_accelerate picto_close

Loét động mạch

Giai đoạn chuẩn bị

picto_purify picto_clean

Giai đoạn lành thương

picto_accelerate picto_close

 

Loét đa nguyên nhân

Các sản phẩm băng gạc dạng nén

picto_compression

Giai đoạn chuẩn bị

picto_purify picto_clean

Giai đoạn lành thương

picto_accelerate picto_close

These advices or recommendations do not replace expert opinion based on a full diagnosis.
Cập nhật lần cuối lúc : 29-02-2020