Loét do tì đè

  • Định nghĩa
  • Chăm sóc vết thương
  • Lời khuyên và cách phòng tránh
  • Sản phẩm điều trị

pressure-ulcers
Để tìm hiểu thêm về loét tì đè nhấp vào đây.

Bệnh học

Loét tì đè là do mạch máu bị đè ép quá lâu trên một vùng của cơ thể , thường xuất hiện ở những vùng có xương bị nhô lên hoặc do khi dùng giường hoặc ghế. Loét tì đè hình thành là do hoại tử thiếu máu cục bộ (thiếu nguồn cung cấp máu) của da và mô dưới da. Một số yếu tố khác làm hình thành loét tì đè có thể là các yếu tố bên ngoài (không liên quan đến bệnh nhân) hoặc bên trong (phụ thuộc vào tình trạng của bệnh nhân).

Yếu tố bên trong

Tuổi

Bất động

Tình trạng da xấu

Sức đề kháng của da bị giảm do tuổi tác, điều trị lâu ngày với corticosteroid và tình trạng thiếu dinh dưỡng.

Da bị giảm độ nhạy cảm

  • Mất cảm giác và mất khả năng tự chủ
  • Không có cảm giác, giảm sự nhạy cảm
  • Tình trạng xương sống và thần kinh
  • Rối loạn thần kinh dẫn đến tình trạng mất cảm giác đau khi cơ thể phải chịu đựng một sức nặng vượt quá khả năng và mất phản xạ khi thay đổi vị trí của các bộ phận trên cơ thể.

Các bệnh có nguy cơ hình thành loét tì đè.

Tình trạng thiếu oxy cục bộ do bệnh động mạch hoặc tình trạng bất thường của tĩnh mạch, bệnh đái đường, ung thư, nhiễm trùng, thiếu máu và sốt cao là các yếu tố có nguy cơ dẫn đến loét tì đè.

Mất kiểm soát

Nước tiểu hoặc phân có thể gây ra trầy da do da bị hầm bí.

Tình trạng dinh dưỡng

Suy dinh dưỡng là một trong những yếu tố chính gây ra loét tì đè. Tất cả phương pháp điều trị loét tì đè phải được đi kèm với một chế độ ăn uống thích hợp.

Yếu tố bên ngoài

Mô bị tổn thương là do 3 nguyên nhân:

Áp lực

Áp lực tác động lên các mô. Áp lực này tác động đến những vùng có xương nhô lên, nơi có mô mềm giữa các xương nối tiếp nhau và lực nén bị tăng lên. Ở trạng thái bình thường , các áp lực này sẽ tác động với một áp lực tương ứng tuỳ thuộc vào trọng lượng của cơ thể của diện tích bề mặt tiếp xúc.

Do ma sát

Sự cọ xát, trầy xước xảy ra khi hai bề mặt cọ vào nhau. Các yếu tố này gây ra sự mài mòn da ban đầu.

extrinsinc_friction

Biến dạng

Khi cọ sát sẽ gây ra trượt và xoắn các lớp dưới da lại với nhau. Loét tì đè thường xuất hiện ở các vị trí đặc biệt khi bệnh nhân ngồi ngã về phía sau các lớp dưới da sẽ là điểm bị đè.

Sự xuất hiện của loét tì đè

Loét tì đè là nguy cơ tìm ẩn có thể xuất hiện khi bệnh nhân bị bất động trong thời gian dài. Trong nhiều trường hợp, một người bị loét tì đè mắc một hoặc nhiều các chứng bệnh khác có thể ảnh hưởng đến điều trị và lành thương. Trong đó bao gồm bệnh tiểu đường và bệnh tim.

Loét tì đè xuất hiện phổ biến ở các bệnh nhân có vết thương cấp và mãn tính. Nghiên cứu cho thấy rằng, ở bất cứ thời điểm nào 3-10% bệnh nhân nằm viện bị loét tì đè và phát triển loét tì đè mới đến 2.7%.

Tìm hiểu thêm

Số liệu từ một cuộc khảo sát ở Mỹ cho thấy:

  • Các khoa hồi sức tích cực có tỷ lệ mắc bệnh loét tì đè cao nhất trong các khoa trong bệnh viện : chiếm 21,5%
  • Khoa chăm sóc đặc biệt cho thấy tỷ lệ mắc bệnh loét tì đè là 14,8%, với 7,1% xuất hiện trong những lần thăm khám bệnh sau đó.
  • Các bệnh nhân mắc bệnh tì đè thường có nhóm tuổi từ 71-80 tuổi (29%)
  • Tỉ lệ loét tì đè phải chăm sóc dài hạn ước tính khoảng 11-30%. Trong số các bệnh nhân suy giảm chức năng thần kinh, 7-8% bệnh nhân mắc tì đè mỗi năm, với nguy cơ phải mang theo bệnh suốt đời ước tính là 25-85%.
  • Phát hiện gần đây từ Đức cho thấy, từ năm 2002 đến năm 2008, tỷ lệ loét tì đè giảm từ 12,5% xuống còn 5%, có thể do có chiến lược phòng ngừa tốt hơn.

Vị trí

80% loét tì đè hình thành ở vị trí xương cùng (xương nối) hoặc gót chân.

Tìm hiểu thêm

Vị trí thường xuyên bị loét là đốt chuyển (xương hông) khi bệnh nhân nằm một bên , các khu vực khác có nguy cơ là chỏm đầu, khuỷu tay và đốt háng.

localisation

Phân loại

Loét tỳ đè có thể được phân loại theo phẫu thuật hoặc theo màu sắc.

Phân loại theo phẫu thuật

Loét tì đè có thể được chia thành các giai đoạn khác nhau. Có nhiều biểu hiện khác nhau của loét tì đè và các giai đoạn không theo thứ tự.

Giai đoạn 0: Da bị chuyển sang màu đỏ

stage0-01

Bệnh nhân có nguy cơ (ví dụ như rối loạn về chỉnh hình hoặc thần kinh kết hợp với một sự suy nhược cơ thể làm bất động và sự gia tăng áp lực [ví dụ như một hoạt động phẫu thuật, không cử động kéo dài, tuổi, vv]) và các tổn thương không thể nhìn thấy được có thể hình thành loét tì đè ở giai đoạn 0.

Đây là giai đoạn lâm sàng, da vẫn còn nguyên vẹn, có sự xuất hiện rõ ràng của vùng da bị chuyển sang màu đỏ, điều này có nghĩa là dưới áp lực các vùng da đỏ sẽ chuyển thành màu trắng.

Giai đoạn 0 là giai đoạn cảnh báo có nguy cơ loét tì đè

Giai đoạn 1: Da bị đỏ (bị mẫn đỏ không phai đi)

stage1-01

Đây là các mảng màu đỏ, phù nề hoặc bị cứng đi lúc nóng (sốt cao) và thường đau, nó không thể trở lại màu trắng dưới tác động của áp lực.

Các vết ban đỏ lâu ngày là biểu hiện của các lớp biểu bì, hoặc thậm chí các lớp hạ bì bị ảnh hưởng.

Chăm sóc đặc biệt rất cần thiết trong giai đoạn này. Không nên xoa bóp khu vực không được khuyến cáo vì nó có thể làm trầm trọng thêm tình trạng bệnh. Da không bị hư vào thời điểm này.

Giai đoạn 2: Vùng da bị đỏ với loét ở bề mặt da và biểu bì

stage2-01

This stage results in:/Kết quả của giai đoạn này:

  • Các nốt phồng nước dẫn đến sự chia tách của lớp biểu bì ( chỗ bị phồng da)
  • Hoặc tổn thương biểu bì và sau đó da –biểu bì

 

 

 

 

 

Giai đoạn 3: Hoại tử mô

stage3-01Các phần biểu bì, trung bì và hạ bì đều bị ảnh hưởng riêng phần cơ không bị tổn thương. Các bức ảnh cho thấy loét tì đè bị bao phủ bởi hoại tử một khô, đen, tiếp giáp với các mô khỏe mạnh. Đây là một dấu hiệu rõ ràng của sự suy yếu của các mô bên dưới.

Hình dáng bên ngoài vết thương không thể hiện được dấu hiệu tổn thương cũng như độ sâu của vết thương.

Các mảng bám hoại tử này bị chia ra bởi một đường rãnh, khi nó phát triển sẽ bị tách ra toàn bộ mảng bám. Hoại tử khô có xu hướng trở nên ẩm và sau đó hoại tử fibrin.

Giai đoạn 4: Loét tì đè ăn sâu toàn bộ da

stage4-01

Tổn thương mô sâu hơn đến phần mô dưới da và ảnh hưởng đến cấu trúc bên dưới da như: cơ bắp, gân và / hoặc khớp.

 

 

 

Phân loại màu sắc

Đây là hình thức phân loại đơn giản được các nhân viên y tế sử dụng , dựa vào tình trạng vết thương. Để đánh giá số lượng hoại tử theo các giai đoạn lành thương , bốn màu sắc thông thường được sử dụng:

  • Hoại tử đen
  • Dịch vàng
  • Màu đỏ trong giai đoạn lên mô hạt
  • Màu hồng trong giai đoạn biểu mô hoá

Các bác sĩ đánh giá tỉ lệ bề mặt vết thương thông qua sự hiện diện của mỗi màu sắc và xác định màu xắc chính của nền vết thương. Kĩ thuật này rất hữu ích vì nó tạo điều kiện thuận lợi để các nhân viên y tế trao đổi và truyền đạt thông tin với nhau. Nó có thể là một yếu tố bổ sung cho phương pháp đánh giá như đánh giá vết thương thông qua các hình ảnh truyền từ xa nhưng kĩ thụât này đòi hỏi những người sử dụng phải được đào tạo và cho những người sử dụng có khả năng thấp.

Lành thương ở loét tì đè

Việc điều trị sớm sẽ tốt hơn. Khi loét phát triển đến một giai đoạn nghiêm trọng hơn, nó trở nên khó điều trị và có thể dẫn đến các biến chứng:

  • Hầu hết các vết loét tì đè giai đoạn 1 và giai đoạn 2 sẽ lành thương trong vòng vài tuần điều trị hợp lý.
  • Loét tì đè giai đoạn 3 và giai đoạn 4 mất thời gian lên đến vài tháng để lành thương. Mặc dù tiến trình lành thương diễn ra chậm nhưng vẫn phải chăm sóc và tiếp tục điều trị để phòng ngừa các biến chứng như làm tổn thương mô nhiều hơn, nhiễm trùng và đau.

Nguyên tắc chăm sóc vết thương loét tì đè

Bước đầu tiên là đánh giá một cách chính xác các vết loét tì đè dựa vào vị trí loét, giai đoạn lành thương, kích thước, nền vết thương, dịch tiết, đau và tình trạng vùng da xung quanh vết thương. Đồng thời cần xác định có hình thành hố hay lỗ rò vết thương.

Loét tì đè nên được đánh giá thường xuyên, hàng ngày hoặc ít nhất là hàng tuần. Nếu tình trạng của bệnh nhân hoặc vết thương tiến triển, kế hoạch điều trị cần phải được đánh giá lại càng sớm càng tốt. Bất kỳ biến chứng nào do sức khỏe của bệnh nhân gây ra cần được giải quyết để làm lành thương tối ưu.

Cắt lọc vết thương

Loét tỳ đè nên được đánh giá hàng ngày để theo dõi các biến nếu cần cắt lọc vết thương.

Tìm hiểu thêm

Để thúc đẩy quá trình lành thương, thường sử dụng phương pháp cắt lọc để loại bỏ các mô hoại tử ở các vết loét.Cắt lọc giúp kiểm soát và ngăn ngừa nhiễm trùng, xác định tình trạng của vết thương. Tuy nhiên, chỉ nên thực hiện cắt lọc nếu phù hợp với tình trạng và mong muốn của bệnh nhân.

Phương pháp cắt lọc chống chỉ định với các trường hợp sau:

  • Vết thương thiếu máu cục bộ có hoại tử khô ( ở gót chân)
  • Mắc chứng rối loạn đông máu

Có nhiều phương pháp đước dùng để cắt lọc vết thương:

  • Cắt lọc tự phân là phương pháp lấy đi các mô hoại tử của tế bào bạch cầu và enzymes và không gây tổn thương các mô khoẻ. Lành thương trong môi trường ẩm bằng cách sử dụng băng gạc là quá trình sinh lý tự nhiên.
  • Cắt lọc cơ học là phương pháp sử dụng các enzymes có liên quan như collagen và các tác nhân gây biến tính khác như hipoclorit sodium không chọn lọc.
  • Phương pháp cắt lọc phẫu thuật bao gồm loại bỏ tuần tự các mô không liên quan đến mạch, sử dụng dao mổ và kéo hoặc kẹp vô trùng để thực hiện tại chỗ và quy trình cắt lọc được thực hiên bởi các bác sĩ phẫu thuật ở phòng mổ.
  • Ngoài ra còn có các phương pháp cắt lọc khác như là : bằng laser, tia nước, giòi, mật ong,vv.
  • Rửa sạch vết thương bằng nước sạch hoặc bằng nước muối sinh lý. Sử dụng lực cơ học nhỏ khi làm sạch vết thương hoặc dẫn lưu vết thương.
  • Nên tắm bằng vòi sen. Dẫn lưu vết thương có ích khi làm sạch vết loét ở hang hốc.
  • Thuốc khử trùng không nên sử dụng thường xuyên để làm sạch vết thương nhưng có thể được dùng khi vi khuẩn cần được kiểm soát (sau khi đánh giá lâm sàng). Phương án tốt nhất là là chất khử trùng chỉ nên được sử dụng trong một thời gian ngắn cho đến khi vết thương sạch và giảm viêm vùng da xung quanh.
  • Băng gạc nên được sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất và không cần phải thay băng mỗi ngày. Thay băng thường xuyên có thể gây tổn thương đến nền vết thương. Quan sát và đánh giá vết loét tì đè thường xuyên để theo dõi tiến triển tiến trình lành thương và nếu cần có thể thay đổi mục tiêu điều trị.
  • Nếu sử dụng băng gạc có bạc nên thay băng từ 1-3 ngày một lần tùy vào mức độ của dịch tiết và tình trạng của vết thương:
    • Nên sử dụng băng gạc bạc trong thời gian ít nhất 2 tuần, sau đó đánh giá lại tình trạng vết thương.
    • Thời gian điều trị tối đa là 4 tuần
  • Để giúp tránh nhiễm trùng loét tì đè, cần lưu ý làm sạch và cắt lọc vết thương .
  • Môi trường sống của bệnh nhân phải được giữ sạch sẽ và khô ráo đặc biệt trong trường hợp bệnh nhân không cử động được.Nếu vết loét bị nhiễm trùng nên dùng kháng sinh thích hợp để điều trị .

Đau

Loét tì đè có thể tác động nghiêm trọng đối với chất lượng cuộc sống của bệnh nhân cả thể chất lẫn tinh thần.

Tìm hiểu thêm

Loét tì đè gây đau đớn là một trong những yếu tố chính ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống bệnh nhân. Bệnh nhân luôn chịu đựng đau đớn trong quá trình điều trị vết thương, cũng như trong quá trình làm sạch vết thương và thay băng. Đau có thể là do bệnh nhân không được đặt đúng vị trí và không được hỗ trợ đúng cách để giảm bớt áp lực lên các vết loét khi ở trên giường hoặc ghế. Nhiễm trùng và viêm cũng sẽ góp phần làm trầm trọng thêm tình trạng đau của bệnh nhân.

Tổn thương tinh thần xuất phát từ thực tế loét tì đè sẽ làm cho bệnh nhân trở nên:

  • Cô lập với xã hội
  • Cảm thấy tự ti
  • Lo lắng và trầm cảm
  • Mất sự tự chủ do cần chăm sóc hàng ngày

These advices or recommendations do not replace expert opinion based on a full diagnosis.

Chăm sóc da đúng cách có vai trò rất quan trọng trong phòng ngừa loét tì đè. Chăm sóc da liên quan đến việc kiểm tra da hàng ngày và giữ cho da sạch sẽ, sử dụng nước ấm (không nóng) và xà phòng giữ ẩm. Da tại các vùng có nguy cơ cao cần được điều trị nhẹ nhàng và làm ẩm nếu da khô.

Lưu ý nên tránh gây áp lực lên các khu vực có nguy cơ cao hoặc chỗ đã hình thành ổ loét .

Tìm hiểu thêm

Di chuyển và thường xuyên thay đổi tư thế của bệnh nhân giúp:

  • Ngăn ngừa loét tì đè phát triển ở các khu vực có nguy cơ loét
  • Giảm áp lực lên vùng loét tì đè độ 1 hay 2.

Để hỗ trợ quản lý áp lực tì đè:

  • Dùng các vật dụng bề mặt có tính hỗ trợ phù hợp cho bệnh nhân như nệm hoặc nệm hơi…
  • Thay đổi tư thế nằm của bệnh nhân hai giờ một lần
  • Giảm áp lực lên gót chân hoặc chỗ xương lồi lên bằng các sử dụng gối hoặc thay đổi giày phù hợp
  • Thay đổi tư thế ngồi của bệnh nhân một giờ một lần
  • Đặt gối ở giữa hai chân bệnh nhân khi nằm nghiêng
  • Giảm sự ma sát và tác động đến vết loét.

Da ở các vùng có nguy cơ loét cần được kiểm tra thường xuyên để phát hiện sớm nhất các dấu hiệu hình thành loét tì đè (giai đoạn 0), khi đó vùng da bị tấy đỏ và loét tì đè có thể hình thành rất nhanh. Việc sử dụng Sanyrene có thành phần (Corpitol 60) Glyceride có mức độ oxy hóa cao của acid béo thiết yếu, được chứng minh là giảm 50% nguy cơ hình thành loét tì đè. Sanyrene được chỉ định sử dụng cho các bệnh nhân có nguy cơ hình thành loét tì đè, đặc biệt ở giai đoạn 0.

  • Xịt một lần lên vùng có nguy cơ hình thành loét tì đè (gót chân, xương cùng…)
  • Xoa nhẹ nhàng bằng tay trong vòng 1 phút.
  • Dùng 3-4 lần mỗi ngày, lúc thay đổi tư thế cho bệnh nhân.

Cần chú ý đến chế độ ăn uống của bệnh nhân, tình trạng dinh dưỡng và khả năng bài tiết.


These advices or recommendations do not replace expert opinion based on a full diagnosis.

Phòng ngừa

picto_prevent

Điều trị

picto_purify picto_clean picto_accelerate picto_close

These advices or recommendations do not replace expert opinion based on a full diagnosis.
Cập nhật lần cuối lúc : 29-02-2020