Vết bỏng

  • Định nghĩa
  • Chăm sóc vết thương
  • Lời khuyên và cách phòng tránh
  • Sản phẩm điều trị

Bỏng là một tổn thương da, và đôi khi tổn thương đến các mô bên dưới, do tiếp xúc với nhiệt, điện, hoá chất, ánh sáng, bức xạ hoặc ma sát. Tổn thương da nghiêm trọng có thể dẫn đến nhiễm trùng và mất đi một số chức năng của da như điều hòa nhiệt và khả năng miễn dịch.

Phần lớn các tổn thương bỏng (95%) là do bỏng nhiệt. Những bệnh nhân bị bỏng nặng cần được điều trị ở những đơn vị chuyên về bỏng.

Mức độ nghiêm trọng

Các chẩn đoán về sự sống hay chết phụ thuộc vào mức độ của tổn thương bỏng. Chẩn đoán về mặt chức năng phụ thuộc vào độ sâu, diện tích và vị trí của vết bỏng.

Mức độ tổn thương bỏng đối với toàn bộ bề mặt da có thể được ước tính khá chính xác ở người lớn bằng cách sử dụng quy tắc Wallace của Nines.

Quy tắc Wallace của Nines

 

Mỗi phần cơ thể được ước tính chiếm 9% diện tích bề mặt da:

  • Tổng diện tích đẩu và cổ cho cả phía trước và phía sau chiếm 9%
  • Tổng diện tích cho mỗi chi trên cho mặt trước và sau chiếm 9%
  • Ngực và phần bụng trước chiếm18%
  • Ngực và phần bụng sau chiếm18%
  • Vùng chậu chiếm 1%
  • Tổng diện tích mỗi chi dưới trước và sau chiếm 18%
Đối với cơ thể của trẻ em , tỷ lệ này khác với người lớn, vì vậy nguyên tắc của Nines phải được điều chỉnh tùy thuộc vào độ tuổi của trẻ.

 

Phân loại vết bỏng

Theo nguyên nhân

Bỏng nhiệt

heat_burnDa có thể bị bỏng khi tiếp xúc với nguồn nhiệt từ các chất lỏng như nước nóng, hơi nước từ một ấm đun nước hay xoong, tiếp xúc lửa hoặc bề mặt nóng như lò sưởi hoặc lò nướng. Nhiệt gây ra các vêt bỏng có thể nhìn thấy với các dấu hiệu tấy đỏ, phồng rộp và gây đau. Cần nhanh chóng loại bỏ nguồn nhiệt và làm mát da bằng nước ấm. Dựa vào độ sâu và diện tích của tổn thương bỏng để đưa ra phương pháp điều trị tương ứng

Bỏng do điện

Bỏng do điện, ví dụ như một cáp điện, thường gây ra chấn thương nghiêm trọng đối với các cơ quan bên trong cơ thể, nhưng những chấn thương này có thể không nhìn thấy trên da. Bệnh nhân nên trực tiếp đến bệnh viện.

Bỏng hóa chất

chemical_burnBỏng hóa chất xảy ra khi mô tiếp xúc với chất ăn mòn như acid hoặc bazơ mạnh. Thường là do tai nạn, vết thương sẽ phụ thuộc tác nhân tác động lên nó .

Các loại bỏng hóa chất thường gặp:

  • Xuất hiện ngay lập tức khi tiếp xúc
  • Có thể là cực kỳ đau đớn
  • Có thể không có biểu hiện ngay hay dễ thấy
  • Khuếch tán vào cấu trúc mô và gây tổn thương dưới da mà không có biểu hiện rõ ràng ngay trên bề mặt da
  • Có thể gây tổn thương mô trên diện rộng

Theo độ sâu của tổn thương bỏng

Bỏng độ 1:

Bỏng độ 1 (vết bỏng trên bề mặt da)

Bỏng độ 1 là tổn thương bỏng chỉ ảnh hưởng đến các lớp bề mặt lớp biểu bì, gây ban đỏ (da đỏ) có thể gây đau nhưng không phồng rộp (nốt phồng nước). Có thể tự lành trong vòng 2-3 ngày mà không để lại hậu quả.

Bỏng độ 2:

Tổn thương biểu bì nông (thương tổn sâu một phần lớp biểu bì)

second_degree_burn

Đây là tổn thương ảnh hưởng đến hầu hết các lớp biểu bì. Về hình dạng, có sự xuất hiện liên tục của các nốt phồng rộp, khi vỡ ra để lộ bề mặt da đỏ, chạm vào mạch máu và rất đau. Quá trình tự lành thương thường xảy ra trong vòng 1-2 tuần và không để lại hậu quả sau đó, nhưng vẫn có nguy cơ để lại sẹo vĩnh viễn đặc biệt là ở trẻ em, sắc tố da sẫm màu hơn và thường lành thương bị trì hoãn do có biến chứng (thường xảy ra nhiễm trùng tại chỗ).

Tổn thương biểu bì sâu

second_degree_burn_deepVết bỏng tổn thương biểu bì sâu cấp độ hai liên quan đến việc phá hủy hoàn toàn các lớp biểu bì và bề mặt trung bì. Tất cả những gì còn lại nguyên vẹn là trung bì sâu và các phần phụ của da (tóc, mồ hôi và tuyến bã nhờn). Các vết bỏng này, giống như bỏng cấp độ hai tổn thương biểu bì nông, có các nốt phồng rộp, nhưng khi vỡ ra, có màu trắng hồng, mạch bị tổn thương nghiêm trọng và mất cảm giác. Lành thương tự nhiên có thể nhờ vào các phần phụ của da nhưng chậm (từ 2-4 tuần). Tình trạng chung của bệnh nhân hoặc xảy ra nhiễm trùng thứ cấp thường có thể làm tổn thương nghiêm trọng hơn do việc phá hủy các tế bào biểu bì cản trở lành thương tự nhiên.

Bỏng độ 3 (bỏng toàn phần)

Tổn thương bỏng độ ba phá huỷ hoàn toàn lớp da. Các vết thương trông giống như than cháy có hoại tử, không có nốt phồng rộp, da trắng nhợt hoặc xám lại (từ màu trắng sang màu nâu đến đen) và mất toàn bộ cảm giác. Sự biến mất hoàn toàn của các tế bào da dẫn đến việc không thể lành thương tự nhiên và để lành thương chỉ có cách duy nhất là ghép da, ví dụ như tự ghép các mô biểu bì, lấy từ một vùng da nguyên vẹn. Da ghép chỉ có thể thực hiện sau khi cắt bỏ lớp hoại tử.

Thời gian lành thương

  • Bỏng độ 1 thường lành thương trong vòng 1-3 ngày.
  • Bỏng độ 2 thường lành thương trong vòng 2-4 tuần.
  • Bỏng độ 3 thường rất lâu mới có thể lành thương

Vết bỏng phải được bảo vệ khỏi các tổn thương và nhiễm trùng do vi sinh vật, do đó băng gạc phải đảm bảo được:

  • Tính linh hoạt, co dãn tốt tạo sự thoải mái cho bệnh nhân trong quá trình điều trị
  • Không có chất độc hại, không dính vào vết thương và không gây kích ứng
  • Thông thoáng và không gây hầm bí
  • Duy trì môi trường ẩm cho vết thương
  • Phù hợp với các tác nhân điều trị tại chỗ
  • Đảm bảo vết thương lành thương mà không làm chậm hay cản trở các giai đoạn lành thương

Công nghệ TLC tạo môi trường ẩm , giúp tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình lành thương. Thêm vào đó, thành phần đặc biệt của TLC kích thích sự gia tăng của các nguyên bào sợi, tế bào đóng vai trò chính trong quá trình lành thương. Các ưu điểm vượt trội của băng gạc TLC đã được chứng minh trong nghiên cứu in vitro.

Băng gạc TLC không dính vào vết thương, không gây tổn thương cho thương các mô tân sinh và thay băng không đau.


These advices or recommendations do not replace expert opinion based on a full diagnosis.

Hành động can thiệp nhanh chóng và chính xác giúp hạn chế mức độ nghiêm trọng của vết bỏng. Bệnh nhân phải được cách ly ngay lập tức với tác nhân gây bỏng. Không nên cố lấy quần áo đang bị dính vào vết bỏng hoặc chọc thủng các vết phồng rộp hoặc gỡ bỏ vùng da bị bỏng. Những nơi bị phồng rộp phải được các bác sĩ chuyên khoa xử lý nhanh chóng. Vết bỏng nên được điều trị bằng cách làm mát da với nước.

Nên tham khảo ý kiến của nhân viên y tế trong các trường hợp sau:

  • Diện tích bề mặt vết bỏng độ 1 hay bỏng độ 2 có đường kính lớn hơn 5-8cm.
  • Các vết bỏng trên mặt, ở những khớp nối chính (như đầu gối và vai), trên bàn tay, bàn chân hoặc cơ quan sinh dục.
  • Nếu bị bỏng độ 3, phải được chăm sóc y tế ngay lập tức
  • Trong trường hợp bị bỏng điện

Trong trường hợp bị bỏng hoá chất , vết bỏng phải được rửa với nhiều nước.

Phòng ngừa

Nên quan tâm và có ý thức chung để phòng ngừa nhiều loại bỏng.

Tại gia đình, nên lưu ý khi xử lý chất lỏng nóng và nấu ăn, hoặc là quần áo và nên để các vật nóng xa tầm tay của trẻ nhỏ.

Khi xử lý các chất có tính ăn mòn, nên sử dụng quần áo bảo hộ như kính bảo hộ, găng tay và áo khoác dùng trong phòng thí nghiệm.


These advices or recommendations do not replace expert opinion based on a full diagnosis.

Vết bỏng
nhiễm trùng

Vết bỏng
không nhiễm trùng

picto_purify picto_clean picto_close

These advices or recommendations do not replace expert opinion based on a full diagnosis.
Cập nhật lần cuối lúc : 01-10-2020